Có Nên Tin Vào Trực Giác?

Tiến sĩ Anne Wilson Schaef - Một tác giả, diễn giả, nhà tư vấn - nói “Tin tưởng vào trực giác giúp ta tránh khỏi tai họa”.

Nhà khoa học lỗi lạc Albert Einstein cũng nói: “Tư duy trực giác là một món quà thiêng liêng, còn tư duy lý luận là một tên đầy tớ trung thành. Chúng ta đã tạo ra một xã hội vinh danh tên đầy tớ nhưng lại quên mất món quà"

Qua rất nhiều danh ngôn, lời nói của các vị học giả, danh nhân, và chính trị gia, chúng ta dường như thấy rằng, trực giác như một công cụ sắc bén, hữu ích mà tạo hóa ban cho loài người. Vậy, trực giác có hoàn toàn đáng tin?

Trong thực tế, chúng ta cảm thấy một ai đó đáng tin, bằng trực giác trong lần đầu gặp mặt. Và rồi, qua thời gian và trong một số bối cảnh cụ thể, người đó làm nên những việc xấu và khó chấp nhận. Ta thường thốt lên “Thực không ngờ đó lại là người như vậy”.

Đứng giữa 2 luận điểm nói trên, có lẽ chúng ta đều thấy, không đơn giản để khẳng định rằng trực giác đáng tin hay không, mà cần đi sâu tìm hiểu cơ chế hình thành nên trực giác, và quan trọng hơn, cơ chế hình thành nên hành vi của con người.

Tâm lý con người là một thể phức hợp nhiều chiều, ở mỗi bối cảnh, một khía cạnh trong con người nổi lên và chiếm ưu thế, ở bối cảnh khác, sẽ có khía cạnh khác “chiếm quyền”. Nhiều trường phái tâm lý học đồng ý phân chia cấu trúc tâm lý con người thành 3 khía cạnh “ Ý thức, Tiềm thức và Vô thức”. Tuy khác nhau về định nghĩa, nhưng tựu chung ba khía cạnh đó có ý nghĩa như sau:

Ý thức: Là phần con người hoạt động có kiểm soát, phần hiển lộ ra và dễ thấy. Đặc trưng của con người ý thức là ta nhận thức được điều ta hành động, và dễ dàng kiểm soát chúng.

Tiềm thức: Là phần con người hoạt động theo cơ chế thói quen và phản xạ. Đặc trưng của phần này là chỉ khi ta thực sự để ý đến, ta mới nhận thức được điều ta làm, khả năng kiểm soát phần con người này khó khăn hơn. Chẳng hạn: Đi xe máy, thói quen chửi tục v.v..

Vô thức: Là phần con người chìm sâu bên trong, kể cả khi ta cố gắng nhận thức cũng vô cùng khó khăn để hiểu được. Có nhiều ý kiến khác nhau về đặc tính cũng như nguyên nhân tạo thành vùng này ở con người.

(Ảnh minh họa)

 Ta lấy một ví dụ. Cha mẹ nói “ Con không nên chửi tục nhiều như vậy”. Ta ý thức được hành động sai của mình, và khi phần con người ý thức kiểm soát, ta không nói bậy. Nhưng trong một bối cảnh đông vui, bạn bè quây quần, ý thức của ta không kiểm soát, phần tiềm thức sẽ chiếm quyền và ta “lỡ lời” văng ra nhiều câu “nói tục”.

Khả năng kiểm soát của chúng ta với tiềm thức khá khó khăn, vì nó tạo lập trên cơ chế thói quen và phản xạ. Còn phần vô thức thì sao?

Sigmund Freud, nhà phân tâm học lỗi lạc, người đặt nền móng quan trọng cho Tâm lý học hiện đại cho rằng “Vô thức, được hình thành do những ham muốn bị dồn nén và không được phép biến thành hành động”.

Khi một người đứng trước một sự cám dỗ, chẳng hạn ngoại tình, anh ta dẹp bỏ được suy nghĩ đó. Ta nói “Phần người chiến thắng”. Nhưng kẻ bại trận là phần con không hề mất đi, nó bị dồn nén lại, bị giấu sâu xuống.

Phần chứa đựng những ham muốn bị chối bỏ này, thường gọi là vô thức. Vô thức như con rắn thâm độc trong ngụ ngôn Vườn địa đàng, nơi Adam và Eva bị cám dỗ và phản bội Chúa. Vô thức chờ cơ hội khi Ý thức bị sụp đổ, hoặc bị đánh lừa, nó sẽ vùng lên.

Tiếng Việt kì thú khi gọi tên giống loài mình bằng từ “Con Người”, sự đối chọi gay gắt giữa phần Con chứa chất nhiều ham muốn xấu, và phần Người đại biểu cho những điều tốt đẹp. Nhìn ở khía cạnh tâm lý, ta có thể ví phần Người như là con người của ý thức, được dạy dỗ nhưng luật lệ và những nguyên tắc nên và không nên. Phần con chứa đựng những ham muốn, đôi khi tội lỗi, của chúng ta.

Có 2 con đường để ý thức thất thủ và để vô thức vùng lên: Một là trạng thái kích động hoặc tự kích động, hai là tự lừa dối mình và vô hiệu hóa phần ý thức.

Chẳng hạn: Nhiều người thuộc thế hệ 7X lớn lên với lối giáo dục tôn trọng sự chung thủy, lối sống Á Đông. Nhưng khi trưởng thành, ham muốn chiếm hữu nhiều phụ nữ đẹp rất mạnh mẽ kể cả khi đã có gia đình. Họ tự vô hiệu hóa ý thức bằng cách “cài đặt chèn lên” những quan niệm mới thay thế cái cũ, ví dụ như “Đàn ông thằng nào chả thích phụ nữ đẹp. Miễn là vẫn có trách nhiệm với gia đình”.

Ngụy biện này được gọi là “Mặc cả giảm giá”, khi họ cố giữ lại phần “có trách nhiệm với gia đình” để không quá cảm thấy tội lỗi với phần “ngoại tình” mà mình hướng tới.

Ngụy biện này phổ biến, ví như “ Ở cái xã hội này, không khôn một chút thì sống sao nổi, thằng nào chả bòn rút chút của công, miễn là mình sống đàng hoàng không hại ai”.

(Ảnh minh họa)

Phân tích trên cho thấy, khi nhìn nhận 1 con người, chúng ta cần nhìn thấu được cả 3 khía cạnh: Ý thức, Tiềm thức và Vô thức của một người.

Phần ý thức phản ánh quan niệm sống, phản ánh sự nhận thức các vấn đề.

Phần tiềm thức phản ánh các thói quen và cơ chế phản xạ. Để thể hiện phần nhân cách này, họ cần có môi trường để bộc lộ.

Phần vô thức phản ánh những ham muốn bị chối bỏ, bị dồn nén. Khía cạnh này được ví như phần chìm của tảng băng trôi, và cần phải đặt trong trạng thái “ý thức mất kiểm soát”, hoặc “ý thức có lý do để tự tha hóa”, mới có thể cân đo đong đếm được.

Ba khía cạnh nói trên, chỉ ra mức độ mà trực giác có thể cảm nhận được về con người. Trực giác cảm nhận tương đối chính xác con người ý thức, khó khăn hơn ở con người tiềm thức và đa số bất lực trước con người vô thức.

Tuy nhiên, cũng cần nói rằng, trực giác của mỗi người là khác nhau. Ở những cá nhân giàu kinh nghiệm sống và trí tuệ sắc bén, trực giác thường chính xác và có khả năng khám phá rất sâu về con người.

Những người sở hữu “tư duy chậm”, tức có khả năng suy xét cẩn trọng, khả năng làm chủ bản thân cao, thường có trực giác mạnh mẽ. Những người có tư duy nhanh, hành động theo cảm xúc, thường trực giác rất thất thường, và khi sai lại sai lầm rất lớn.

Nhóm cố vấn của SEE

 

Công ty Cổ phần Công nghệ và Giáo dục Wikiedu
Địa chỉ: Tầng 4, tòa nhà số 137, Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
Email: see@hocxemtuong.com
Di động: 0985 658 242